Monthly Archives: Tháng Tư 2014

Nhật ký mở lần thứ 83b: BỘC BẠCH TÂM TƯ CÙNG TRANG MẠNG BÔ-XÍT….

 Nhật ký mở lần thứ 83b

Ngày 4/4/2014

BỘC BẠCH TÂM TƯ CÙNG TRANG MẠNG BÔ-XÍT….

Lần đầu “dán” một bài viết trả lời cho bài “Vài lời cùng bác Tô Hải” trên trang mạng Bô-xít (xin đọc ở đây nếu chưa đọc). Vì thế entry này mới được đánh số là 83b.

Kính gửi các bạn thương yêu và cảm phục của tôi!

Trước hết, tôi xin phép bầy tỏ lòng xúc động, niềm phấn khởi chân thành của tôi khi:

-Lần thứ 2, được một trang web mà tôi tín nhiệm hàng đầu (không phải là “một trong những ….hàng đầu” đâu!) đã có bình luận đầy ưu ái về một entry tôi đã viết và “xin thưa lại” về những điểm tôi viết chưa được nhiều người ưng ý…

– Được nghe những khi ý kiến “không đồng thuận” để tôi tự nhìn lại mình nghiêm khắc hơn, khi còn kịp…

Tôi hoàn toàn mong được mọi người góp ý, phản biện một cách thân tình, không ném đá, chụp mũ, bôi xấu, vu cáo, thành kiến với những ai đã có những nhận thức, những phương pháp, tác phong đấu tranh khác với mình, có kiểu tư duy lỗi thời “nói ngược, làm ngược” với mình, thậm chí đối lập với mình… là liền vu cho người đó “về phía bên kia” ngay tút xuỵt!

Bởi vây, tôi thật hạnh phúc khi, lần đầu tiên được “tự do tư tưởng” với những người tôi rất cảm mến, cũng như thấy được ai đang phê phán mình rất yêu mến mình, không như những ai phê phán mình nhưng lại chỉ nhằm “hạ bệ” mình không thương tiếc!…

Tôi đã đọc đi đọc lại bài “thưa lại” đó rồi tự thấy cần phải “nói lại cho rõ” thêm về những điểm mà tôi, dù đã “che chắn dài dòng” cũng không sao nói hết lòng mình cho được:

1-Tôi hoàn toàn không bao giờ dám coi thường các cây bút mà, qua các bài viết của họ như Phạm Toàn, Huệ Chi, Tô văn Trường, Hoàng xuân Phú…luôn là niềm hứng khởi để tôi “phát triển chủ đề”, nói thêm những điều mà tôi trộm nghĩ, vì nhiều lý do, họ chưa thể…nói toẹt ra. Còn tôi, ở cái tuổi chỉ chẳng còn mấy thời gian nữa để được khiêng đến …“lò thiêu xác”, tôi cứ nói thẳng thừng, chẳng sợ vào tù, đi cải tạo gì nữa! Tôi mạnh bạo, vượt lên sự sợ hãi chính là nhờ ở họ!

2- Tôi chỉ nổi khùng khi “đọc phải” những bài viết mâu thuẫn chẳng thua gì “kinh tế thị trường” nhưng phải “định hướng xã hội chủ nghĩa”! Đó là những tuyên bố, phát biểu cứ như sắp có một Góoc-ba, một Djilas …đến nơi nhưng, cuối cùng lại là: “Nói gì thì nói, không thể phủ nhận công lao to lớn của Đảng ta, của Bác Hồ đã giải phóng cho đân ta…”
hoặc mở đầu đã “che chắn” ngay bằng câu “Việc đầu tiên, phải khẳng định: “Nước ta có được tự do, độc lập hôm nay là do công lao của Đảng…của bác Hồ…”

Và không ít vị đã như muốn tự khẳng định “Mình là nhà cộng sản chân chính”, khi tuyên bố công khai rằng thì là “nói gì đi chăng nữa thì chẳng qua cũng chỉ để “đảng ta” lấy lại lòng tin của nhân dân mà thôi!.”…
Đặc biệt, những vị bị Đài Tivi Hà nội “bêu danh” sau 1, 2 vụ biểu tình …. Chống Tâu xâm lược, sau mấy lời phản đối, thậm chí kiện cáo thì…bỗng dưng không bao giờ thấy xuất hiện trong các cuộc biểu tình để làm “đầu tầu” cho các con, các cháu nữa, thì…tôi không thể không viết lên cái nỗi “thất vọng đến chán chường” đang xâm chiếm tâm hồn mình, giờ đây thân tàn ma dại (không sao bước đi được quá 10 bước, mà muốn đi xa hơn thì phải cần có người đẩy đi trên chiếc xe lăn) đã không thể đóng góp chút gì với lớp trẻ sớm “giác ngộ” “cách mạng giải cộng” mạnh dạn và hăng say hơn lớp cha anh nhiều lần.
Cho phép tôi được miễn kể tên những người mà tôi đã coi như “đầu hàng” này! Còn nếu tôi “nhầm lẫn”, chưa hiểu được “đường lối”, ”chiến thuật”, ”phương pháp” đấu tranh của họ bằng cách tổ chức những Hội, những đoàn, những trang mạng, những diễn đàn…nhằm “từ từ mà đánh địch” hơn là “phô trương hình thức” (?) chường mặt ra để chúng nó bôi xấu (!)… tất cả đều là những tắc tíc, những phương pháp đấu tranh nhằm đạt được mục đích cuối cùng (La fin justifie les moyens) thì…. chính tôi cũng đã tự đặt cho mình cái “tình hình có thể có” này ngay trong bài viết là: “Có thể tôi không hiểu được những mục đích sâu, xa gì đó”….Tôi không hề phát biểu ở thể khẳng định bao giờ!

3-Chỉ riêng 2 vấn đề mà các bạn ở bô-xít “thưa lại” mà tôi hoàn toàn không sao xét lại mình được và xin phép được bảo lưu và tranh cãi công khai đến cùng. Đó là:

A-Tạm thời chấp nhận một sự thống trị thực chất là sắt máu, coi như cái giá để bước sang dân chủ, chẳng lẽ ta không làm ??? Xin trích nguyên văn:

“…nếu diễn biến của lịch sử đất nước ở thời hiện đại sẽ có nhiều bước đi, và một bước đi không tránh được là bước độn, ở đó cần một bàn tay sắt kiểu Poutine để “giải cộng hóa” (décommunisation), thì dù có tạm thời chấp nhận một sự thống trị thực chất là sắt máu, coi như cái giá để bước sang dân chủ, chẳng lẽ ta lại không làm?”

Đây là điều tôi sợ nhất cho tương lai đất nước khi đã báo động bằng bài “Tránh vỏ dưa, gặp quả lừa, tránh quả lừa sẽ gặp gì đây?” (Nhật ký mở lần thứ 79 – Ngày 24/2/2014) sau vụ nổi dậy ở Ukraina…
Chẳng lẽ những người sẽ tiếp thu cái thể chế đang thối ruỗng này không tìm được cách triệt tiêu hoặc ít nhất, hạn chế đến mức tối đa bọn “đảng viên” thay áo làm dân chủ kiểu Yanoukovich, Poutine.?… Tôi đã từng trả lời cho một số các cháu và bạn bè quan tâm đến vấn đề có hay không cái gọi là “bước độn” nguy hiểm “phải trả giá” đó như sau:

1- Phải thẳng tay loại trừ tất cả những ai là cộng sản ra khỏi mọi cơ quan hành pháp, lập pháp, tư pháp, …v.v… của đất nước. Giầu có như C.H.L.B Đức thì cho tất cả về hưu, hưởng lương hưu bằng đồng DM, Nghèo như ta thì mời họ đi làm những công việc lao động dịch vụ khác! Thế là quá nhân văn “hữu khuynh” mất rồi!

2- Đối với bọn đại gia tỷ, tỷ phú, lâu đài, biệt thự, tài khoản đến cả 6, 7 số không (đằng sau số có) thì cứ thẳng tay tịch thu xung vô công quỹ, chẳng cần chứng cớ chứng cò gì xất! Việc này tránh hậu họa chúng sẽ dùng tiền để “maphia hóa” những người cầm quyền mới như bên Nga, bên Ukraine và cả bên Tầu hiện giờ!

3- Tôi cũng vạch ra những trường hợp từ vô sản, từ đảng viên, từ Bộ Trưởng, Tỉnh Trưởng, Tổng Giám Đốc, Bí, phó bí đảng ủy cộng sản an ninh (KGB) đã trở nên tỉ tỉ phú nhanh chóng chỉ qua 2, 3 năm cổ phần hóa vào tay chúng hết như thế nào.
Tôi đã gõ vào Google để giới thiệu sơ qua 20 tên tỉ phú đã nắm trong tay tới 227 tỉ USD ra sao? Những cái tên Vladimir Lisin (27tỉ) A.Khodorkovsky, D.Rybololev, Vladimir Doronin, Berezovsky……. và quèn mạt nhất là Roman Abramovich, ông chủ của C.L.B bóng đá Chelsea không tuần nào không xuất hiện trên màn ảnh ở nước Anh, nơi ông ta đã chọn làm quê hương thứ 2, sau khi đã bỏ hết các chức vụ, kể cả tỉnh trưởng để “mang của chạy theo người” sang đất Luân Đôn mà hưởng thụ cho đến chết!….Và cứ click thêm vào một cái tên tỉ phú Nga nào, ta cũng nhận thấy:
BỌN CHÚNG ĐỀU LÀ NHỮNG TÊN CỘNG SẢN HOẶC CON CHÁU BỌN TRÙM CS CÓ CỠ thời Liên Bang Xô Viết hết!
Còn của cải mà bọn “cướp thế kỷ” đó tích lũy được trong thời gian “trái độn” của 720 tỉ phú Nga được Tạp chí Tài chính Nga công bố đều khiến bọn Bạc Hy Lai, Chu Vĩnh Khang …chỉ có thể cúi đầu bái lạy làm …“sư phụ”!

Vậy thì: Cái “trái độn”, cái “giá phải chấp nhận” mà bạn nào đó đã thay mặt bô-xít viết chẳng lẽ là “định mệnh” không thể nào tránh được sao ?

Tôi hoàn toàn bác bỏ luận điểm nguy hiểm này và rất tin tưởng sau khi “décommunisation”, lớp trẻ hôm nay và ngày mai, nếu tiến hành ngay những bước loại trừ bằng hết bọn cơ hội chủ nghĩa “chống cộng hơn ai hết vào giờ thứ 26”, sẽ phải làm ngay và sẽ làm được!
Bằng không thì mấy ông “ôm chặt thẻ đảng” đang phục kích sẽ nhảy ra đập nát chế độ “vua tập thể” này để rồi sẽ lại lên nắm chính quyền với bộ cân đai áo mũ mới của những tên “độc tài toàn trị phát xít hóa” (dictature totalitaire fascisant) mà thôi! Nhỡn tiền là đấy chứ đâu nữa!

Cuối cùng là cái phần mà tôi mừng khi hướng về phương Bắc, (dù có cả phần lo) cũng cần phải nói lại cho rõ: Tôi mừng thiệt chứ không mừng chiến thuật gì xất! Tôi hoàn toàn không đồng ý với lập luận sau đây:


“…Thiết tưởng, một anh Tàu không đi theo dân chủ của Tây phương cũng không còn là cộng sản của Mao thì đằng nào Việt Nam cũng bị kẹt dưới nanh vuốt của cái loại quái vật khổng lồ “nửa người nửa ngợm nửa đười ươi” ấy. Mà như thế mình lại càng chết ngắc. Cho nên vấn đề là trước sau gì cũng phải giẫy ra khỏi anh Đại Hán cái đã. Để tìm một vị trí độc lập tương đối, cân bằng giữa các thế lực siêu cường, như Phần Lan trước đây chẳng hạn. Muốn đáp ứng được phương cách ứng xử rõ ràng là bức thiết kia thì phải chọn kịch bản, giữa một Tập và một Pou…(?!)

Tôi cũng xin phép tuyên bố lại một lần nữa quan điểm không hề lay chuyển của tôi là:

VỚI TÌNH HÌNH THỰC TẾ VIỆT NAM HIỆN TAI, KHÔNG THỂ CÓ MỘT AI CÓ KHẢ NĂNG LÀM CÁI VIỆC “TRƯỚC CÁI ĐÔ ẤY, NGOÀI CHÍNH NHỮNG ANH TẬP, ANH BẠC, ANH CHU, KHỬ NHAU ĐỂ “THAY ÁO” Ở NƯỚC HỌ, TẠO ĐIỀU KIỆN CHO NƯỚC TA THỜI CƠ XÂY LẠI ĐẤT NƯỚC Đà GẦN NHƯ NẰM TRONG TAY HỌ MẤT RỒI!

Tôi khẳng định là như thế và xin phép được “bảo lưu” 2 ý kiến bị bác bỏ!

Xin thứ lỗi cho tôi, nếu đôi chỗ, tôi có hơi chút quyết liệt kiểu “Jusqu’au Boutiste”!

Tôi sẵn sàng tranh luận bằng tình thương yêu “đồng chí hướng” đến cùng bằng mọi phương tiện có thể.

 

Thân nhân của Tù nhân lương tâm Hồ Thị Bích Khương lên tiếng

(04.04.2014) – Thanh Hóa – Kính gửi: Tất cả các quý cá nhân cũng như tổ chức trong cũng như ngoài nước; trong thời gian qua đã có nhiều nỗ lực để quan tâm và vận động cho em gái tôi là Hồ Thị Bích Khương, hiện đang bị buộc phải chịu án tại nhà tù K4 trại 5 Thanh hóa.

140404005Kính thưa quý vị: Đây là lần thứ 3 em gái tôi phải chịu cảnh tù đầy chỉ vì đã có những nỗ lực đấu tranh cho quyền con người được tôn trọng tại Việt Nam. Lần này em tôi bị nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam kết án 5 năm tù giam và 3 năm quản chế. Trong thời gian bị tạm giam điều tra và chờ đưa ra xét xử, em tôi đã nhiều lần bị đánh đập, bị trại giam kỷ luật với hình thức biệt giam và cắt thăm nuôi mỗi lần một tháng. Cũng trong thời gian tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ an, do không đồng ý  lăn dấu vân tay và ký nhận vào hộ sơ vụ án, nên em tôi đã bị công an tên là Thái Hoàng cán bộ trinh sát trại tạm giam công an tỉnh Nghệ an lôi kéo vặn tay để ép em tôi lăn tay đỉm chỉ vào hồ sơ, làm cho vết gãy nơi xương vai trái vốn đang trong thời gian ghép đinh bị gãy trở lại.

Sau phiên sơ thẩm em tôi bị chuyển sang nhà tạm giam chờ thi hành an của trại giam này. Em tôi bị giam tại nhà giam B4b của trại giam Nghệ an do nữ quản giáo tên Hường phụ trách. Tại nhà giam này em tôi bị nữ quản giáo Hường nhiều lần mở của buồng giam cho các phạm nhân khác vào đánh đập em tôi. Trong phiên tòa phúc thẩm xử  em gái tôi đã tố cáo trước tòa về việc cô bị bạo hành trong trại giam, nhưng Hội đồng xét xử đã không quan tâm tới những lời tố cáo của cô. Read more of this post

Người phản đổi Dự Án Boxit đã ra đi

(04.04.2014) – Đăk Nông – Sau những ngày tháng được chăm sóc trong vòng tay yêu thương của vợ và các con, cùng với sự quan tâm chia sẻ của những người yêu mến và cảm phục tinh thần yêu quê hương đất nước, thầy Đinh Đăng Định đã ra đi vào lúc 21h40 phút ngày 03.04.2014, tại số nhà 214 khu 4 thị trấn Kiến Đức, huyện Đăk R’lấp tỉnh Đắk Nông.

Trong những ngày tháng cuối cùng chiến đấu với cơn đau của bệnh tật, thầy Đinh Đăng Định có một mong muốn là được các Cha Dòng Chúa Cứu Thế lo lắng về hậu sự cho thầy, trước và sau khi Thầy về với đất mẹ, về với nơi mình được sinh ra.

10h30 phút ngày 03.04, từ nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp (Kỳ Đồng), chúng tôi theo hướng Tây Nguyên để tiến về phía Đăk Nông. Trên đường đi, một người bạn của thầy Định chia sẻ “Thầy Định vì lên tiếng Boxit liên quan tới Trung Quốc do vậy bị đầu độc, tất cả những người tù chính trị còn lại trong trại giam và lên tiếng chống Trung Quốc không ngoại trừ [cũng có thể] bị đầu độc”. Tôi suy nghĩ sao nhà cầm quyền đất nước này lại có thể hèn nhát đến vậy chăng? Sau 5 giờ đồng hồ trên xe, chúng tôi dừng lại trước cửa của ngôi nhà cũ với bảng số – 214 Nơ Trang Long, khối 4 Thị Trấn Kiến Đức – Đắc Lấp – Đăk Nông. Ngôi nhà gỗ cũ kỹ thân thuộc này là nơi một người yêu nước đã công khai phản đối dự án khai thác Boxit đang sống những giây phút cuối cùng của một đời người. Read more of this post

Thanh niên giữ Nước hay giữ Đảng?

VRNs (04.04.2014) – Washington DC, USA – Thanh niên Việt Nam sống dưới thời Cộng sản đã bị ép  làm thân con tốt đen, tốt đỏ cho đảng sử dụng vào mục tiêu nuôi Đảng sống béo dài lâu thay vì phục vụ quyền lợi tối thượng của Tổ Quốc và Dân tộc.

Ông Hồ Chí Minh từng nói Thanh niên là “cánh tay đắc lực và đội hậu bị của Đảng” . Còn đảng thì từ thế hệ lãnh đạo này qua lớp cầm đầu khác chỉ biết thi đua hô như pháo nổ :“đâu cần thanh niên có, việc gì khó thanh niên làm” và cho Thanh niên “uống nước đường” với câu nịnh suy tôn gỉa tạo như coi họ là  “sức sống trẻ trung của dân tộc”, vì vậy đảng phài bồi đắp, xây dựng nên những thế hệ thanh niên “vừa hồng, vừa chuyên”.

1404030006“Chuyên” thì đã đành vì Việt Nam rất cần có những con người trẻ  có đầu óc sáng tạo, phá vỡ những hàng rào cản hủ lậu, chậm tiến để đưa đất nước tiến lên “ngang tầm thời đại” sau gần 40 năm kết thúc chiến tranh huynh đệ tương tàn mạo danh “giải phóng” và “giành độc lập”.

Nhưng đến Thế kỷ 21 mà Thanh niên vẫn phải “hồng” theo đảng là tư tưởng lạc hậu không còn ai muốn nhắc đến , sau khi Chủ nghĩa Cộng sản bị sụp đổ ở nước Nga và Đông Âu từ 1989 đến 1991. Read more of this post

Đức Thánh Cha diễn giải về bí tích Hôn Phối

Đức Thánh Cha diễn giải về bí tích Hôn Phối

E-mail Print

DTC_Rome03042014VATICAN – Trong tuổi tiếp kiến chung 60 ngàn tín hữu hành hương sáng thứ Tư, 2-4-2014, tại Quảng trường Thánh Phêô, ĐTC Phanxicô đã diễn giải về bí tích Hôn Phối và kêu gọi tái lập việc đọc kinh trong gia đình.

Trong số hàng trăm nhóm hiện diện, đông đảo nhất là các nhóm đến từ Italia, gồm các học sinh, các giáo xứ, và hiệp hội, đặc biệt có 90 quân nhân thuộc Lữ Đoàn 5 Hiến Binh ở Bologna, trung Italia, 300 sĩ quan và thủy quân thuộc Hàng không Mẫu Hạm Cavour, và 200 cảnh sát quốc gia từ thành Ravenna và Rimini. Từ nước ngoài, đông nhất 35 nhóm từ Cộng hòa Liên bang Đức, 13 nhóm từ Áo và 6 nhóm từ Thụy Sĩ. Đến từ nhiều nước khác nhau có 30 tham dự viên cuộc hội thảo do Hội đồng Tòa Thánh về gia đình tổ chức, 50 nữ tu thuộc tổng tu nghi Dòng Nữ Tử Đức Bà Thánh Tâm, và 45 nữ tu thuộc dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ.

Tuy giờ chính thức được ấn định cho buổi tiếp kiến là 10 giờ rưỡi, nhưng lúc 9 giờ 45, ĐTC đã xuất hiện tại quảng trường, trên chiếc xe díp mui trần màu trắng, tiến qua các lối đi để chào thăm các tín hữu, hôn các em bé do các nhân viên an ninh bế lên ngài.

Khi ĐTC lên tới lễ đài, mọi người đã nghe các LM đọc bằng 5 thứ tiếng đoạn thứ 5 thư thánh Phaolô gửi tín hữu thành Ephêso dạy các đôi vợ chồng hãy yêu thương nhau như chính Chúa Giêsu đã yêu thương và hiến mình vì Hội Thánh.

Bài huấn giáo của ĐTC

Trong bài huấn giáo sau phần tôn vinh Lời Chúa, ĐTC đã trình bày về Bí tích Hôn phối là bài chót trong loại giáo lý về các bí tích. Ngài nói:

“Anh chị em thân mến, mến chào anh chị em,

Hôm nay chúng ta nói về bí tích hôn phối và kết thúc loạt bài giáo lý về các bí tích. Bí tích hôn phối dẫn chúng ta đến trọng tâm ý định của Thiên Chúa, là một ý định giao ước với dân Ngài, với tất cả chúng ta, một ý định hiệp thông. Ở đầu sách Sáng Thế, cuốn sách đầu tiên trong bộ Kinh Thánh, khi kết thúc trình thuật về sự sáng tạo, có nói rằng: “Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình giảng của Ngài; theo hình ảnh Thiên Chúa Ngài tạo dựng họ: Ngài sáng tạo họ có nam có nữ.. vì thế người nam sẽ bỏ cha mẹ và kết hiệp với vợ mình, và cả hai nên một thân thể” (St 1,27; 2,24). Hình ảnh Thiên Chúa là một đôi hôn nhân, là người nam và người nữ, tất cả hai, chứ không phải chỉ có người nam, và người nữ. Đó là hình ảnh Thiên Chúa, và tình yêu, giao ước của Thiên Chúa với chúng ta, được tượng trưng trong giao ước giữa người nam và người nữ. Đây là một điều thật là đẹp! Chúng ta được tạo thành để yêu thương, như phản ánh Thiên Chúa và tình thương của Chúa. Và trong sự kết hiệp vợ chồng người nam và người nữ thực hiện ơn gọi này qua dấu chỉ hỗ tương và cuộc sống hiệp thông trọn vẹn và chung kết. Khi một người nam và một người nữ cử hành bí tích hôn phối, thì có thể nói Thiên Chúa phản ánh trên họ: Ngài in trên họ những đường nét của Ngài và đặc tính không thể xóa bỏ của tình yêu Ngài. Hôn nhân là hình ảnh tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta. Thật là đẹp! Cả Thiên Chúa cũng là hiệp thông. Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Linh từ đời đời và mãi mãi trong trong sự hiệp nhất hoàn hảo. Và điều này chính là mầu nhiệm Hôn Phối: đó là Thiên Chúa làm cho đôi vợ chồng trở nên một cuộc sống duy nhất – Kinh Thánh nói là “một thân thể duy nhất” – theo hình ảnh của tình yêu Thiên Chúa, trong dấu chỉ hiệp thông bắt nguồn từ nơi Thiên Chúa và kín múc sức mạnh từ đó.”

Tiếp tục bài giáo lý, ĐTC nói:

“Thánh Phaolô, trong thư gửi tín hữu thành Ephêsô, làm nổi bật điều này là: nơi các đôi vợ chồng Kitô có phản ánh mầu nhiệm mà Thánh Tông Đồ định nghĩa là “cao cả”, có nghĩa là tương quan được Chúa Kitô thiết lập với Giáo Hội, một tương quan có đặc tính hôn nhân tuyệt vời (Xc Ep 5,21-33). Điều này có nghĩa là Hôn nhân đáp ứng một ơn gọi đặc thù và phải được coi là một sự thánh hiến (Xc Vui Mừng và Hy Vọng, 48); Familiaris consortio, 56). Thực vậy, do bí tích Hôn Phối, các đôi vợ chồng được ủy thác một sứ mạng riêng và đích thực, để từ những điều đơn sơ, bình thường, họ có thể hữu hình hóa tình thương mà Chúa Kitô yêu thương Giáo Hội của Ngài, tiếp tục hiến thân cho Giáo Hội, trong sự trung tín và phục vụ”.

“Thực là một ý định tuyệt vời những gì ở trong bí tích Hôn Phối! Và nó được thể hiện trong sự đơn sơ và cả trong sự dòn mỏng của thân phận con người. Chúng ta biết rõ đời sống vợ chồng có bao nhiêu khó khăn và thử thách.. Điều quan trọng là giữ cho mối liên hệ với Thiên Chúa được luôn sinh động, mối liên hệ này là nền tảng mối liên hệ vợ chồng. Mối liên hệ thực sự luôn luôn là liên hệ với Chúa. Khi gia đình cầu nguyện thì mối liên hệ ấy được duy trì. Khi người chồng cầu nguyện cho vợ, và người vợ cầu cho chồng, mối liên hệ ấy trở nên bền chặt hơn. Hai người cầu cho nhau. Và quả thực là trong đời sống gia đình có bao nhiêu là khó khăn: công ăn việc làm, thiếu tiền, con cái có vấn đề.. bao nhiêu là khó khăn. Và bao nhiêu lần vợ chồng căng thẳng, cãi nhau. Trong hôn nhân vẫn có những vụ cãi nhau, và nhiều khi bát đĩa bay. Anh chị em cười, nhưng đó là sự thật. Nhưng chúng ta không nên buồn vì điều này. Thân phận con người là như thế. Nhưng bí quyết là tình yêu mạnh hơn những lúc cãi nhau. Và vì thế tôi khuyên các đôi vợ chồng, đừng bao giờ kết thúc một ngày mà không làm hòa với nhau, nếu đã cãi nhau. Để làm hòa với nhau không cần phải gọi LHQ, chỉ cần một cử chỉ nhỏ, một cái vuốt âu yếm. Và ngày mai lại bắt đầu. Đó là cuộc sống: tiến bước như thế trong can đảm, can đảm muốn sống chung với nhau. Đời sống hôn nhân là điều rất đẹp và chúng ta phải luôn giữ gìn, bảo vệ con cái.”

“Một vài lần tôi đã nói ở đây, có 3 lời giúp cho đời sống vợ chồng. Tôi không biết anh chị em có nhớ 3 lời ấy không: ba lời phải luôn nói trong gia đình: xin vui lòng, cám ơn, và xin lỗi. Xin vui lòng: để không xem mình trong đời sống vợ chồng; cám ơn người phối ngẫu của mình, cám ơn điều mà anh, em đã làm. Và vì tất cả chúng ta đều có sai lỗi, nên cần nói lời này: xin lỗi. Với 3 lời này, với kinh nguyện của vợ chồng cho nhau, và vợ chồng luôn làm hòa với nhau trước khi kết thúc một ngày, hôn nhân sẽ tiếp tục tiến bước. Xin Chúa chúc lành cho anh chị em!

Chào thăm

Sau bài giáo lý trên đây bằng tiếng Ý, các linh mục thuộc các cơ quan Tòa Thánh đã lần lượt tóm tắt bài giáo lý trong các ngôn ngữ khác nhau: Pháp, Anh, Đức, Bồ đào nha, Arập, Ba Lan. Các vị cũng dịch những lời chào của ĐTC gửi đến các nhóm tín hữu hiện diện. Chẳng hạn bằng tiếng Pháp ngài đặc biệt chào thăm các tu huynh tu viện đại kết Taizé với thầy Alois, các thành viên hiệp hội các ký giả tôn giáo.

Với các tín hữu nói tiếng Anh, ĐTC nhắc đến nhiều người hành hương đến từ Anh quốc, xứ Galles, Đan Mạch, Na Uy, Malta Nhật bản, Canada và Hoa Kỳ. Ngài cũng nói: “Tôi vui mừng đón tiếp Liên hiệp Công Giáo trợ giúp y tế tại Hoa Kỳ và các linh mục tham dự khóa thường huấn về thần học tại Trường Bắc Mỹ ở Roma này”.

Với các tín hữu nói tiếng Ba Lan, ngài nhắc đến ngày giỗ lần thứ 9 của Chân phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ngày 2-4 năm 2005 và nói: “Chúng ta nghĩ đến lễ phong hiển thánh cho Người mà chúng ta sẽ cử hành vào cuối tháng 4 này. Ước gì sự chờ đợi biến cố này là cơ hội cho chúng ta chuẩn bị tinh thần và làm sinh động lại gia sản đức tin mà Người để lại. Noi gương Chúa Kitô, Đức Gioan Phaolô II là người rao giảng Lời Chúa không biết mệt mỏi cho thế giới, rao giảng chân lý và sự thiện. Người đã làm điều thiện kể cả với những đau khổ của Người. Đó chính là giáo huấn bằng cuộc sống của Người và Dân Chúa đã đáp lại với tất cả lòng yêu mến và quí chuộc. Ước gì sự chuyển cầu của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II củng cố nơi chúng ta đức tin, niềm hy vọng, và lòng mến. Ước gì phép lành Tòa Thánh của tôi tháp tùng anh chị em trong trời gian chuẩn bị này.”

Sau cùng, ĐTC chào đông đảo các nhóm tiếng Ý, các nữ tu tham dự tổng tu nghị của dòng, các tín hữu thuộc các giáo xứ và hội đoàn khác nhau, cả hiệp hội những bệnh nhân bị xơ cứng. Ngài nhăc đến nhóm Jemo Nnanzi ở thành phố L’Aquila trung Italia, bị động đất cách đây 5 năm. Ngài cũng ngỏ lời với các bạn trẻ, cac bệnh nhân và các đôi vợ chồng mới cưới, và nhắc đến lễ kính thánh Phanxicô di Paola. Ngài nói: Hỡi những người trẻ thân mến, đặc biệt là những người thuộc làng thiếu niên Maddaloni, các con hãy học nơi thánh Phaolô di Paola lòng khiêm nhường là sức mạnh chứ không phải là một sự yếu đuối. Hỡi anh chị em bệnh nhân, đừng mệt mỏi trong việc xin Chúa giúp đỡ. Và anh chị em tân hôn, hãy thi đua nhau trong việc quý chuộng và giúp đỡ nhau”.

ĐTC đã cùng mọi người hát kinh Lạy Cha và ban phép lành cho tất cả.

G. Trần Đức Anh OP

Radiovatican

http://www.tonggiaophanhanoi.org/tin-tuc/tin-giao-hoi-toan-cau/7167-duc-thanh-cha-dien-giai-ve-bi-tich-hon-phoi-

Tạm biệt thầy giáo Phêrô Đinh Đăng Định

VRNs (04.04.2014) – Sài Gòn – “Con vẫn không tin bố con mất” – cháu Thảo, con thầy giáo Đinh Đăng Định nói với chúng tôi về thân phụ của mình khi ông đã tạ thế hơn 30 phút.

Thảo kể, trước đây khi bố bị bắt, gia đình sợ, và vì cũng không hiểu rõ việc bố làm, nên cũng mặc cảm bố phạm tội. Nhưng khi bắt đầu đi tìm cách cứu bố khắp nơi, thì sự thật sáng ra dần dần. Bố không phải là người phạm tội, mà bị người ta ép tội ghép án oan.

Khi dự án Bôxít ở Nhân Cơ, tỉnh Đăk Nông chuẩn bị đưa vào hoạt động, thầy giáo Đinh Đăng Định đã công khai lên tiếng phản đối dự án này, vì theo ông nó làm hủy hoại môi trường sinh thái Tây Nguyên, và có nhiều nguy cơ khác xảy ra cho người dân và quốc gia Việt Nam.

Những ý kiến của ông về khoa học môi trường và xã hội học lại được bộ phần giám định văn hóa kết luận là sai, dẫn đến  việc ông bị bắt vào tháng 10 năm 2011 và bị đưa ra xét xử sơ thẩm ngày 09.08.2012 với bản án 6 năm tù theo Điều 88 Bộ luật hình sự, tức là tuyên truyền chống nhà nước. Ngày 21.11.2012 tòa án tỉnh Đăk Nông xử y án và tống ông vào nhà tù An Phước, tỉnh Bình Dương. Read more of this post

(Video) Bài Hát ‘Khỏe Re Như Con Bò Kéo Xe’, Cựu tù nhân lương tâm Nguyễn Hữu Cầu -3.4.2014

 

TRÒ BỈ ỔI MỚI CỦA BÈ LŨ CƯỚP NƯỚC VÀ BÁN NƯỚC

Lê Anh Hùng | 1.4.2014



PTT Tàu Hoàng Trung Hải và Thủ tướng TQ Ôn Gia Bảo (ảnh nền: khu
mộ nhà HT Hải ở Sơn Đồng, Quỳnh Giao, Quỳnh Phụ, Thái Bình)

Nhà chức trách lẩn tránh trách nhiệm Vụ việc vợ chồng tôi tố cáo các ông Phó Thủ tướng Tàu Hoàng Trung Hải, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và (nguyên) Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh suốt từ năm 2008 đến nay vẫn chưa được nhà chức trách giải quyết theo đúng pháp luật.
Ngày 18.7.2013, Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc đã chuyển cho tôi “công văn” của Bộ Công an “trả lời” Quốc hội về đơn thư tố cáo mà tôi gửi cho ông ngày 6.6.2012. Bộ Công an đã lặp lại “kết luận điều tra” ngày 28.4.2010 của Công an tỉnh Quảng Trị cho rằng tôi bị “tâm thần hoang tưởng” để bác đơn tố cáo của tôi. Họ hoàn toàn phớt lờ Bản Cam Đoan viết tay của vợ tôi (Lê Thị Phương Anh) ngày 11/3/2011 mà tôi gửi kèm theo đơn thư tố cáo, trong đó khẳng định: (i) chồng tôi (Lê Anh Hùng) là người hoàn toàn bình thường, khi chồng tôi bị bắt ngày 25/12/2009 tôi khai chồng tôi bị tâm thần là do bị đe doạ và ép buộc; (ii) tôi hoàn toàn đồng ý với Thư Tố Cáo của chồng tôi đối với các ông Nguyễn Tấn Dũng, Hoàng Trung Hải, Nông Đức Mạnh; tôi là người nằm trong đường dây ma tuý của PTT Hoàng Trung Hải; tôi là nhân chứng trực tiếp và cung cấp thông tin cho chồng tôi. Ngày 16.9.2013, vợ chồng tôi đã chuyển cho Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc đơn thư tố cáo mới, lần này vợ tôi là người ký đầu tiên. Ngày 22.10.2013, trong cuộc gặp với vợ chồng tôi tại văn phòng làm việc của ông ở 216 Trần Quang Khải (Hà Nội), ĐBQH Dương Trung Quốc nói là ông sẽ chuyển đơn thư của chúng tôi cho Bộ Công an. Tuy nhiên, kể từ đó đến nay, chúng tôi chưa hề nhận được bất kỳ hồi âm nào từ cả ĐBQH Dương Trung Quốc lẫn các cơ quan chức năng ở Việt Nam.

Đọc tiếp >>>

“Cận cảnh” nguyên nhân Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam sụp đổ

Thiếu tướng Lâm Văn Cương [*]

Nhân kỷ niệm 96 năm Cách Mạng Tháng Tám (19/8/1945 – 19/8/2041), bài viết này nhằm cung cấp một cái nhìn cận cảnh về sự sụp đổ của nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Sự sụp đổ của chính quyền XHCN Việt Nam cuối những năm 10, đầu những năm 20, của thế kỷ XXI là một sự kiện đặc biệt quan trọng của khu vực Đông Nam Á, là một tổn thất hết sức to lớn của những người cộng sản trong quá trình hiện thực hóa học thuyết Mác-Lênin. Sự sụp đổ của chính quyền XHCN Việt Nam vào cuối 2021 đã làm thay đổi căn bản cục diện chính trị khu vực Đông Nam Á cũng như khu vực Châu Á- Thái Bình Dương.

Trong giai đoạn 1945 – 1954, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nằm trong vòng vây của thực dân Pháp. Trong giai đoạn đặc biệt khó khăn này, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa non trẻ lâm vào thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã vượt qua thách thức hiểm nghèo để tiếp tục phát triển, với kết quả là kết thúc chiến tranh năm 1954 bằng trận Điện Biên Phủ và sau đó là Hiệp định Geneve.

Sau hơn bảy mươi lăm năm tồn tại, phát triển chậm chạp, vào cuối những năm 10 của thế kỷ XXI, Cộng hòa XHCN Việt Nam đã vượt qua 4 cuộc chiến (45 -54, 54 – 75, Biên giới Tây Nam, Biên giới phía bắc), từ một nước thiếu đói thành một trong những nước xuất khẩu hang đầu về gạo và cà phê. Từ một nước với năng lực hải quân hạn chế đã có hạm đội tàu ngầm, tàu chiến, trở thành một thế lực trong khu vực Đông Nam Á. Với sức mạnh to lớn về quân sự và kinh tế, Cộng hòa XHCN Việt Nam đủ sức đương đầu với hệ thống tư bản thế giới và có khả năng ngăn chặn mọi âm mưu, hoạt động hiếu chiến của chủ nghĩa đế quốc của người anh em Trung Quốc để bảo vệ hòa bình khu vực và thế giới.

Cộng hòa XHCN Việt Nam sụp đổ khi đã đạt đến đỉnh cao.

Tại sao?

Đã có hàng trăm, thậm chí hàng nghìn bài viết, công trình chuyên khảo và sách lý giải vấn đề này, trong đó các cuốn sách của những người trong cuộc đưa ra lời giải có sức thuyết phục nhất. Nhân kỷ niệm 96 năm Cách mạng tháng tám (19/8/1945 – 19/8/2041), bài viết này nhằm cung cấp một cái nhìn cận cảnh về sự sụp đổ của Cộng hòa XHCN Việt Nam.

1. Chính quyền XHCN Việt Nam đã có đóng góp hết sức to lớn vào sự phát triển của khu vực và thế giới.

Trong nửa sau của thế kỷ XX, trên thế giới có hơn một chục Đảng Cộng Sản cầm quyền, hình thành một hệ thống XHCN hùng mạnh đủ sức kiềm chế mọi hành động đơn phương, hiếu chiến chống phá cách mạng của chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là Mỹ.

Chính nhờ sự tồn tại của hệ thống XHCN hùng mạnh, hàng trăm dân tộc bị nô dịch, áp bức đã vùng lên làm cách mạng giải phóng dân tộc, làm suy sụp chủ nghĩa thực dân cũ, làm thất bại chủ nghĩa thực dân mới. Xét đến cùng, sự hình thành và phát triển của phong trào không liên kết là thành quả của cuộc đấu tranh vô sản – tư sản trên phạm vi toàn cầu, là thành tựu to lớn của các Đảng Cộng sản cầm quyền trong thế kỷ XX. Nói cách khác, chính những người cộng sản, trước hết là các Đảng Cộng sản cầm quyền ở các nước thuộc hệ thống XHCN, đã ghi tạc một mốc son chói lọi vào tiến trình phát triển văn minh nhân loại.

Các Đảng Cộng sản cầm quyền đã xây dựng được một hệ thống xã hội hùng mạnh (hệ thống XHCN), trên nhiều lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội tốt đẹp hơn, ưu việt hơn chủ nghĩa tư bản (CNTB). Cho đến nay, sau 20 năm Cộng hòa XHCN Việt Nam sụp đổ, vẫn có 9% người Việt được hỏi ý kiến cho rằng ở chủ nghĩa xã hội nhiều điều tích cực hơn là tiêu cực.

Thật trớ trêu, chính các Đảng Cộng Sản cầm quyền, trước hết và chủ yếu là Đảng Cộng sản Việt Nam, lại để mất quyền lãnh đạo, Cần lưu ý rằng Đảng Cộng sản Việt Nam mất quyền lãnh đạo, Nhà nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam sụp đổ mà không thông qua một cuộc chiến tranh với chủ nghĩa đế quốc.

Thực chất, Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp và chủ yếu là Bộ Chính trị, BCH Trung Ương đã tha hóa, đã tự đánh mất mình và làm cho Cộng hòa XHCN Việt Nam sụp đổ. Chính những người lãnh đạo cao nhất, các ủy viên Bộ Chính trị Đảng CSVN đã thừa nhận điều đó. Tất nhiên, hoạt động chống phá của các thế lực chống cộng quốc tế thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình” cũng là một nguyên nhân làm cho Cộng hòa XHCN Việt Nam sụp đổ, nhưng chắc chắn không phải là nguyên nhân chính, không phải là nguyên nhân chủ yếu.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam đã tha hóa, biến chất như thế nào?

Sơ bộ có thể nêu ra một số biểu hiện lớn sau đây:

– Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng. Đi liền với nó là các bệnh tật: độc đoán, chuyên quyền, không chấp nhận những ý kiến khác với mình; coi thường tập thể, coi thường cấp dưới, tự cho mọi ý kiến của mình là chân lý buộc mọi người phải tuân theo, coi những ai có ý kiến ngược lại là chống đối, thậm chí là thù địch, khi cần thiết bảo vệ “cái uy” của mình, họ sẵn sàng đối xử với đồng chí, đồng đội như đối với kẻ thù. Kết quả là trong sinh hoạt, đảng mất hết sinh khí, mất hết tính chiến đấu. Sinh hoạt đảng trở nên tẻ nhạt, khô cứng, độc thoại một chiều. Trong điều kiện đó nhiều đảng viên trung kiên, trong sáng không được trọng dụng, cố nín nhịn để tồn tại, những kẻ cơ hội, nịnh bợ có điều kiện được thăng tiến.

– Hai là, Bộ Chính trị, BCH Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã quan liêu xa rời thực tiễn, để mất quan hệ máu thịt giữa Đảng CSVN với nhân dân Việt Nam. Tệ quan liêu làm cho những người lãnh đạo các cấp của Đảng CSVN xa rời thực tế, không có hiểu biết đúng đắn hiện trạng xã hội mà mình đang lãnh đạo, quản lý. Họ thờ ơ trước những nguyện vọng chính đáng của quần chúng, thậm chí không có rung động, phản ứng trước những nỗi thống khổ, oan ức của một bộ phận quần chúng nhân dân, trong đó có cả một bộ phận đảng viên, cán bộ cấp dưới.

– Ba là, những suy thoái về đạo đức, lối sống của một số lãnh đạo cấp cao giữ vai trò chủ chốt với những biểu hiện nổi bật: Sống ích kỷ, đặt lợi ích của bản thân, gia đình và người thân lên trên lợi ích của Đảng, của nhân dân; cục bộ địa phương, kéo bè kéo cánh đưa những người thân tín với mình, kể cả những người yếu về năng lực, kém về đạo đức, lối sống vào những vị trí lãnh đạo để làm vây cánh, che chắn bảo vệ mình; tham ô, sống xa hoa, nói một đằng làm một nẻo, cá biệt còn tha hoá, suy đồi về đạo đức, lối sống.

Trên đây là những biểu hiện nổi bật chủ yếu sự thoái hoá của một bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là các cán bộ chủ chốt ở cấp cao.

Chỉ khi nào sự thoái hóa, biến chất diễn ra tại trung tâm quyền lực (chóp bu) của Đảng thì mới trở thành nguy cơ đối với Đảng, đó là đêm trước của sự tan rã, sụp đổ. Đảng Cộng sản Việt Nam và các “phiên bản” Đông Âu của nó thuộc trường hợp này.

Thông thường các biểu hiện trên không tồn tại biệt lập, mà luôn song hành, có quan hệ với nhau, tác động với nhau, có lúc cái này làm tiền đề, điều kiện cho cái kia tồn tại và phát triển. Những biểu hiện thoái hoá nói trên, không bổng nhiên xuất hiện, mà có một quá trình từ chớm nở như một ung nhọt nhỏ rồi phát triển qua nhiều giai đoạn. Những bệnh tật này lặng lẽ tích dồn liên tục trong nhiều tháng, nhiều năm làm Đảng mất sức chiến đấu, thiếu nhạy bén, không đưa ra được đường lối, quyết sách đúng đắn, khả thi. Trong Đảng CSVN đã thực sự có phân hoá: Một bộ phận cán bộ, đảng viên giàu lên nhanh chóng do đặc quyền, đặc lợi, đại bộ phận sống khó khăn; nhiều đảng viên nói một đằng làm một nẻo, trong cuộc họp nói khác ngoài cuộc họp, suy nghĩ một đằng phát biểu một nẻo. Tính chiến đấu trong sinh hoạt đảng dần dần nguội lạnh, nhiều đảng viên trở nên thờ ơ trước những vấn đề chính trị có quan hệ đến vận mệnh của Đảng CSVN.

Theo Nguyễn Phú Trọng, có thể chia 3,6 triệu đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam làm 4 loại: 1, Những đảng viên chân chính thường chiếm tỷ lệ nhỏ, 2. Những người thực hiện, chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng như cái máy (chiếm khoảng hơn 96%); 3. Những kẻ cơ hội, xu thời, nịnh bợ (phần lớn trong bộ máy công quyền); 4. Những người im lặng (phần lớn họ là những người có hiểu biết nhưng sợ bị trù dập nên họ giữ im lặng, không dám phát biểu).

Trần Xuân Bách, nguyên ủy viên Bộ Chính trị ĐCS Việt Nam, Bí thư trung ương Đảng (1986 – 1990) cho rằng: Tồn tại hai Đảng trong Đảng Cộng sản Việt Nam: Một đảng của hàng chục triệu đảng viên bình thường và một đảng của những quan chức chóp bu trong hệ thống đảng, nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Những đảng viên nắm quyền lực ở cấp cao ngày càng xa rời, cách biệt với hàng chục triệu đảng viên bình thường. Số đảng viên này, về thực chất, không đại diện và bảo vệ lợi ích của giai cấp, của dân tộc, mà chỉ tìm mọi cách bám giữ quyền lực vì lợi ích cá nhân của họ.

Do những bệnh tật kể trên, đại bộ phận quần chúng nhân dân giảm lòng tin đối với sự lãnh đạo của Đảng CSVN, thờ ơ đối với những vấn đề chính trị trọng đại của đất nước, thậm chí có một số trông chờ, mong muốn có sự thay đổi. Chính đó là trạng thái trong Đảng Cộng sản Việt Nam và trong xã hội Việt Nam vào cuối những năm 10, đầu những năm 20 của thế kỷ XXI, đêm trước của sự sụp đổ, tan rã (2019 – 2021).

3. Thử bàn về các nguyên nhân

Về hoạt động chống phá của Mỹ và các thế lực chống cộng quốc tế thì rõ ràng, có đầy đủ thông tin, tư liệu để khẳng định. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất cảnh giác.

Mặt trái của cơ chế thị trường cũng là một nguyên nhân. Nhưng nếu quá nhấn mạnh, cường điệu mặt trái của cơ chế thị trường thì khó lòng giải thích được những thoái hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Cộng sản Trung Quốc trong thời kỳ Mao Trạch Đông, Trường Chinh, Lê Duẩn lãnh đạo, vì thời Mao, thời Trường Chinh, thời Lê Duẩn chưa có kinh tế thị trường.

Nghiên cứu kỹ quá trình thoái hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam, kể cả những đảng cầm quyền rồi mất quyền và những đảng hiện nay còn cầm quyền, chúng tôi xin nêu ra hai vấn đề để trao đổi, thảo luận.

– Một là, về mặt tổ chức, trong suốt quá trình tồn tại, phát triển của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam chưa xây dựng được cơ chế hữu hiệu để đảm bảo dân chủ thực sự trong sinh hoạt Đảng. Đảng CSVN đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong suốt quá trình hoạt động. Theo chúng tôi, đây là điểm khởi thuỷ, nguồn gốc của mọi biểu hiện khác về sự thoái hoá của Đảng CSVN (quan liêu, tha hoá về tư tưởng chính trị, thoái hoá về đạo đức, lối sống, chia rẽ mất đoàn kết…). Ở đâu và khi nào trong sinh hoạt đảng thể hiện sục sôi dân chủ, thì đảng có sức sống mãnh liệt. Đảng Cộng sản Việt Nam dưới thời lãnh đạo của Hồ Chí Minh là một ví dụ điển hình.

Xét đến cùng, do thiếu dân chủ trong sinh hoạt Đảng nên cơ quan lãnh đạo của Đảng CSVN thiếu thông tin nhiều mặt về một vấn đề, đặc biệt là những vấn đề hệ trọng quan hệ đến sinh tồn của Đảng. Thiếu dân chủ cho nên trong sinh hoạt đảng thường là độc thoại một chiều từ những người lãnh đạo cao nhất, thiếu hẳn thông tin phản hồi từ dưới lên. Thiếu dân chủ, nên những đảng viên ưu tú, nhạy bén, sắc sảo, thông minh không có chỗ để thể hiện ý tưởng của mình. Trong một tổ chức như vậy, bộ tham mưu cao nhất không có đủ thông tin nhiều chiều, toàn diện, do đó những quyết định về đường lối, sách lược thường không phù hợp với thực tiễn, thậm chí trái ngược với quy luật, ngược với hiện thực khách quan. Phải chăng, đó là một trong những nguyên nhân căn bản dẫn đến tình trạng nghị quyết, chỉ thị rất nhiều nhưng việc đưa vào cuộc sống không được bao nhiêu. Theo ngôn ngữ y học, thuốc rất nhiều nhưng không có loại đặc trị, nên bệnh tình sẽ ngày càng trầm trọng.

Dưới góc độ lý thuyết hệ thống, có thể xem một tổ chức đảng như một hệ thống. Để đảm bảo cho hệ thống đó tồn tại bền vững, nhất thiết phải có trao đổi thông tin. Nếu thiếu trao đổi thông tin (theo 2 chiều thuận – nghịch, từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong) thì sớm muộn hệ thống đó sẽ bị đổ vỡ để chuyển sang một trạng thái khác. Thiếu dân chủ trong sinh hoạt đảng, tức là thiếu trao đổi thông tin (trên xuống, dưới lên, trong đảng ra ngoài xã hội và ngược lại). Nếu trạng thái này kéo dài thì sẽ sinh ra thoái hóa của hệ thống đảng dưới nhiều biểu hiện như đã trình bày ở trên. Nếu không khắc phục được, để kéo dài, thì sớm muộn sự thoái hóa của một số đảng viên ở vị trí chủ chốt sẽ dẫn đến sự thoái hóa của đảng cầm quyền.

Hãy trở lại với Đảng Cộng sản Việt Nam để chúng ta hiểu rõ vấn đề dân chủ trong đảng. Nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng được ghi rõ trong Điều lệ, Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, qua nhiều lần thay đổi, vẫn là một văn bản quy định rất chặt chẽ, rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của đảng viên. Tại sao không ngăn chặn được những biến thái lệch lạc của Nguyễn Phú Trọng, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Sinh Hùng, không ngăn chặn được hành vi lạm quyền, lộng quyền và phản bội của Nguyễn Tấn Dũng, Vũ Đức Đam? Cớ sao hàng triệu đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam không có phản ứng gì khi Vũ Đức Đam tuyên bố giải tán Đảng? Không thể nói cách khác, thiếu dân chủ trong sinh hoạt Đảng và không có cơ chế giám sát quyền lực hữu hiệu, đặc biệt là thiếu hẳn cơ chế giám sát hoạt động của Tổng bí thư, của Bộ Chính trị là nguồn gốc sinh ra tệ lạm quyền, lộng quyền của những người lãnh đạo Đảng CSVN, làm cho đảng có một xác thịt to lớn (hàng chục triệu đảng viên), nhưng không có hồn, không có sức sống.

Thực tế xác nhận: Đảng CSVN trước đây không có lực lượng nào và không có cơ chế nào thực hiện giám sát và phản biện hoạt động của Tổng Bí thư, của Bộ Chính trị. Một nhóm nhỏ này, có khi chỉ dăm ba người nắm quyền lực tối cao, tự tung tự tác, ai có ý kiến khác sẽ bị họ chụp cho cái mũ là “chống đối”, “là phản động”, “là chống Đảng”, thậm chí là “phản bội Tổ quốc”…

Cũng do thiếu dân chủ trong sinh hoạt Đảng mà các thành viên trong tổ chức có quan hệ với nhau rất lỏng lẻo, đảng mất hết sức sống, tính chiến đấu chỉ còn lại trong nghị quyết.

Do thiếu dân chủ trong sinh hoạt Đảng, mà một thời gian dài trước khi sụp đổ, tan rã, trong Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như trong các Đảng Cộng sản ở các nước XHCN ở Đông Âu đã lặng lẽ diễn ra một quá trình phân hóa trong đảng, cả trong sinh hoạt Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị. Các đảng viên nghĩ một đằng phát biểu một nẻo, không dám thể hiện chính kiến của mình ngay cả đối với vấn đề quan hệ đến sinh tồn của Đảng. Trong cuộc họp người ta nói một đằng, mà phần lớn không thật lòng, ngoài cuộc họp người ta nói riêng với nhau lại khác, cấp trên áp đặt, cấp dưới điều chỉnh hành vi cho phù hợp với cấp trên, mọi thông tin chính thức từ trên xuống và đặc biệt là từ dưới lên đều thiếu chân thật. Chưa đến một tháng trước khi tan rã, mất quyền lãnh đạo, những người lãnh đạo của một Đảng Cộng sản cầm quyền vẫn khẳng định sức chiến đấu của đảng mình, vẫn tuyên bố tuyệt đại bộ phận nhân dân còn ơn đảng, theo đảng, tin đảng và tuyệt đại đa số đảng viên là tin cậy, trung thành…!

Cũng do thiếu dân chủ trong sinh hoạt Đảng mà Đảng CSVN đã mắc sai lầm trong việc đánh giá cán bộ, đào tạo cán bộ, tuyển chọn và bố trí, sử dụng cán bộ vào vị trí chủ chốt trong Đảng, trong Nhà nước. Thiếu dân chủ là bà đỡ của thói nịnh bợ, luồn lọt, là điều kiện tốt cho chủ nghĩa thực dụng, cơ hội vị kỷ phát sinh tồn tại trong đảng, nhất là ở các cơ quan lãnh đạo cấp cao. Ai cũng biết cán bộ quyết định tất cả, và thực tiễn cũng xác nhận điều đó. Nhưng Đảng CSVN phạm sai lầm trong công tác sử dụng, bố trí cán bộ.

– Hai là, sự thoái hóa của Đảng CSVN là do các đảng viên, trước hết và chủ yếu là các đảng viên giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt ở cấp cao, chưa đủ độ chín muồi về mặt chính trị, chưa thực sự giác ngộ về giai cấp, về lý tưởng cộng sản. Khi kết nạp mọi đảng viên đều tuyên thệ về sự giác ngộ lý tưởng cộng sản của mình, hứa hẹn một lòng một dạ phấn đấu vì lợi ích của giai cấp, của những người lao động, nguyện trung thành với lý tưởng cộng sản… Nhưng khi đã vào đảng rồi thì họ thiếu rèn luyện và trong hoạt động thực tiễn, họ dần dần xa rời những lời tuyên thệ, hứa hẹn của mình. Đó là quá trình tha hóa của đảng viên, và kéo theo sự tha hóa của đảng. Tất nhiên, không phải mọi đảng viên đều diễn ra quá trình tha hóa đó.

Tất nhiên, còn nhiều vấn đề thuộc về nguyên nhân và điều kiện làm cho Đảng CSVN thoái hóa, nước Cộng hòa XHCN Việt Nam sụp đổ. Ở đây chúng tôi không có điều kiện để trình bày tất cả, chỉ nêu ra những nhân tố quan trọng nhất, cơ bản nhất. Có thể xem nó là nguồn gốc của mọi thoái hóa của Đảng cầm quyền nói chung, của Đảng CSVN nói riêng. 

* * *Năm 2041, nhân dân Việt Nam nói riêng và nhân loại tiến bộ nói chung, kỷ niệm 96 năm Cách mạng tháng tám (19/8/1945 – 19/8/2041). Chủ nghĩa xã hội đã tồn tại 76 năm tại nước Việt Nam (1945 – 2021) và Cộng hòa XHCN Việt Nam sụp đổ đã 20 năm (2021 – 2041). Người Việt Nam nói riêng, nhân loại tiến bộ nói chung, còn phải tiếp tục nghiên cứu lý giải một cách cặn kẽ và có sức thuyết phục về những vấn đề liên quan đến sự sụp đổ của Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Sau chừng ấy thời gian, cho phép chúng ta khái quát ba vấn đề lớn sau:

– Một là, từ Cách mạng tháng tám đến khi sụp đổ của Cộng hòa XHCN Việt Nam (1945 – 2021) có thể phân kỳ như sau: 1. Thế hệ cách mạng đầu tiên do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã đưa nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ vượt qua thử thách “ngàn cân treo sợi tóc” 1945 – 1954 để tồn tại và phát triển; 2. Thế hệ lãnh đạo thứ hai do Lê Duẩn lãnh đạo đã đánh đuổi đế quốc Mỹ và thống nhất đất nước; 3; Thế hệ lãnh đạo thứ ba ở Việt Nam từ Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt, Lê Khả Phiêu là những người đã tham gia chiến tranh chống Mỹ và họ đã đưa Việt Nam từ một nước thiếu đói trở thành nước xuất khẩu gạo và cà phê hàng đầu; 4. Thế hệ lãnh đạo thứ tư với hạt nhân là Nguyễn Tấn Dũng, Vũ Đức Đam, là những người sinh ra trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ và ít nếm trải thử thách của chiến tranh.

Chính thế hệ lãnh đạo thứ tư đã làm cho Đảng CSVN mất quyền lãnh đạo, làm cho Cộng hòa XHCN Việt Nam sụp đổ.

– Hai là, thế hệ lãnh đạo thứ tư ở Việt Nam với Nguyễn Tấn Dũng, Vũ Đức Đam là hạt nhân đã nắm trong tay mọi quyền lực và mọi nguồn lực của đất nước, nhưng họ không thuận theo lòng dân, không được dân ủng hộ nên đánh mất toàn bộ cơ đồ sự nghiệp và bị lịch sử vứt vào sọt rác.

Hóa ra, việc thâu tóm được mọi quyền lực và mọi nguồn lực quốc gia không khó bằng nắm được lòng dân. Những ai không nắm được lòng dân thì họ đã thất bại ngay khi đang nắm quyền lực.

– Ba là, các đảng cộng sản đang cầm quyền và chưa cầm quyền cần rút ra bài học từ thất bại của Đảng CSVN, từ sự tan rã của Nhà nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam để vượt qua chính mình vì hạnh phúc của nhân dân và sự hưng thịnh của đất nước.

Sai lầm và khuyết điểm rất khó tránh, nhưng không thực sự nguy hiểm. Điều nguy hiểm nhất là không dám thừa nhận sai lầm, khuyết điểm, đặc biệt là không có quyết tâm chính trị để tránh sai lầm, khắc phục khuyết điểm.

Thiếu tướng Lâm Văn Cương (Nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược Bộ Quốc Phòng)

http://www.viet-studies.info/kinhte/NguyenNhanSupDo_DL.htm

 

 

Lan man cảm nghĩ vụ công an ” làm chết người ”

Năm 1994 tôi ở buồng 6D bên chẵn của trại giam Hà Nội. Lúc ấy anh Kỳ là trưởng buồng. Anh Kỳ năm đó khoảng 46 tuổi, người cao, trắng trẻo, nhanh nhẹn. Anh là công an xã, bị can tội giết người , anh bị xử 17 năm.

Buồng 6D nằm tít góc bên trong cùng của dãy buồng giam, thành phần toàn cán bộ hay dây mơ rễ má cán bộ trại. Có một ông buôn lậu, có ông tham ô, có ông làm giấy tờ cho người đi nước ngoài, có cả thằng học sinh 16 tuổi cầm dao gọt hoa quả giết bạn. Thằng đó bị tù 6 năm, nó ca hát suốt ngày.

Tôi nằm cạnh anh Kỳ, ngay hôm đầu tiên vào buồng. Quản giáo dẫn tôi vào chỉ chỗ nằm ở đó, lúc bỡ ngỡ tôi không hiểu là chỗ nằm tức là vị trí. Có nghĩa tôi sẽ là buồng phó.

 

Ở một buồng giam toàn thành phần khá lành như thế, chẳng có chuyện đánh đập, cướp bóc hay tra tấn gì. Mỗi tù nhân khi nhận quà cứ mang 1/3 đến biếu lại buồng trưởng. Anh Kỳ nhà ở Sóc Sơn, nghèo, vợ anh lâu lắm mới tiếp tế cho anh vì còn nuôi ba đứa con nhỏ. Có lẽ quản giáo thương tình đồng nghiệp cho anh làm trưởng buồng để có chút lộc lá. Áng chừng anh chưa đủ kinh nghiệm giang hồ nên bổ sung tôi làm buồng phó.

Bình thường anh Kỳ rất hiền, tôi nhớ có lần thằng Tuấn nằm ngủ, nửa đêm mơ thế nào tinh trùng xuất ra ướt đẫm quần. Nó dậy xin đi tắm. Ở tù kỵ nhất buổi đêm xáo trộn. Tôi xuống chỗ nó xem thấy thế, đồng ý cho nó đi tắm. Quay về tôi báo anh Kỳ chuyện như vậy. Anh Kỳ nét mặt buồn thiu, anh ngậm ngùi lắc đầu.

  • Khổ thân, đang tuổi ăn tuổi lớn yêu đương mà thế.

Sau này tôi trải qua nhiều buồng giam, nhưng không bao giờ tôi gặp được người buồng trửởng nào như thế. Toàn những loại buồng trưởng, trách nhiệm xăm trổ đại bàng, rồng phượng hành hạ tra tấn tù khác như tra tấn một con chó. Có lẽ may mắn cho tôi bị ảnh hưởng từ anh khi mới bước chân vào tù, cho nên sau này khi có làm trưởng buồng, đội trưởng tôi cũng không làm gì đến mức phải hao tổn phúc phận của tổ tiên.

Tôi nghe chuyện, mới biết anh chẳng giết ai. Làng anh bắt được thằng ăn cắp, mọi người đuổi theo vây đánh. Anh hô – bắt được đánh chết mẹ nó đi. Thế nào thằng trộm bị đánh chết thật. Ra tòa có người khai anh hô câu đó. Anh Kỳ bị kết án đầu vụ, lĩnh án 17 năm tù. Lúc đó anh là trưởng cônng an xã. Nói là trưởng công an xã, nhưng kiến thức luật pháp, xã hội hay văn hóa anh chả biết gì mấy. Làm việc thì năng nổ, nhiệt tình, không tham nhũng hay hoạch họe. Sở dĩ tôi tôi nói chắc vậy vì chức đội trửởng buồng giam cũng quyền sinh sát lớn lắm. Nhưng anh không hề lạm dụng nó đề bắt chẹt hay lột đồ gì của ai.

Anh Kỳ đi trại cải tạo Phú Sơn, từ nhà anh ở Sóc Sơn đi đến trại đó cũng tiện. Tôi đi trại cải tạo phía Nam. Chúng tôi chỉ ở bên nhau được vài tháng. Trại tạm giam chỉ là nơi tạm giam, thời gian ở tạm giam so với thời gian ở tù chỉ là một thoáng. Nên ít khi người ta nhớ đến nhau.

17 năm tù cho một câu hô có tính bộc phát của một trưởng công an xã. Đó là thời điểm năm 1994, cũng thời điểm ấy một công an khác là Phạm Tùng Dương hay cái gì Tùng Dương bị kết án tử hình vì bắn chết người trên cầu Chuơng Dương. Cảnh sát Tùng Dương làm nhiệm vụ đầu cầu, thấy có một thanh niên đi vào làn xe ô tô, Dương đuổi theo chặn lại, giằng co cái túi đựng tiền của người ấy, súng nổ, người kia chết. Tùng Dương lãnh án tử hình. Bản án thi hành vào một mùa xuân năm 1995 thì phải. Lúc đó tôi là tự giác bên ngoài, nghe thây quản giáo phòng này ngậm ngùi nói với quản giáo phòng kia – hôm nay Tùng Dương ” đi” rồi đấy.

Những điều ấy nói lên rằng, thưở đó số phận của các cảnh sát, công an chưa nằm ngoài vòng pháp luật. Họ phải nhận những bản án nghiêm khắc như bất kỳ tên tội phạm nào, thậm chí còn là nặng hơn vì là người thực thi pháp luật, am hiểu pháp luật.

Thế rồi năm tháng trôi, bỗng một ngày có ông thứ trưởng công an lên làm thủ tướng. Rồi từ đó nhiều ông thứ trưởng khác làm bí thư tỉnh ủy, làm ở Viện Kiểm Sát, Tòa Án hay làm thường trực ban bí thư. Ở cấp nhỏ hơn thì công an là bí thư quận, chủ tịch huyện, chủ tịch phường.

Nguyên nhân có thể là suy diễn, cho nên không dám kết luận tại vì nhiều công an giữ những chức như thế mà chiến sĩ công an phạm tội lãnh mức án khiến người dân ngỡ ngàng hay không.?

Công an bỗng nhiên làm lạc đạn. Mà lạc đạn nhiều lắm, đạn bắn chỉ thiên mà tòan cắm xuống như vụ bắt đám bạc, vụ cuỡng chế ở Nghi Sơn , Thanh Hóa. Rồi người ta vào đồn là tự tử, là bị bệnh đột tử. Rồi tự họ lao vào dùi cui, rồi muôn vàn cái chết khi gặp công an mà lý do đều trời ơi, đất hỡi. Báo chí thì viết theo kiểu như – 5 người công an làm chết đương sự. Súng cướp cò làm hai nạn nhân thiệt mạng, đột tử khi bị bắt giam…..báo chí không còn phong độ như thời ráo riết mổ xẻ tìm nguyên nhân vụ Tùng Dương nữa. Thậm chí là công an ” làm chết người ” cũng chả buồn đăng phiên tòa như vụ ở Thanh Hóa và bao nhiêu vụ khác nữa. ( trong khi đó thì vụ Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Văn Hải, Lê Quốc Quân…báo chí lê thê mấy kỳ, xử trốn thuế mà lại với sang chuyện bị cáo thế này thế nọ về chính trị …)

Các mức án dành cho công an ” làm chết người ” cũng ngày càng nhẹ đị. Từ 7 năm vụ Bắc Giang xuống 4 năm vụ ông Trịnh Xuân Tùng rồi cuối cùng là án treo cho các chiến sĩ công an ở vụ Tuy Hòa. Với cái đà xử và báo chí đưa tin thế này, liệu chúng ta có cần thiết đến tòa án và công luận nữa trong các vụ xử chiến sĩ công an hay không.?

Hay chăng bỏ quách đi cho khỏi mất thời gian. Khỏi xét xử làm gì. Có sợ hậu vận, âm phúc thì những thủ phạm là công an chỉ cần đến nhà nạn nhân xin lỗi là đủ. Không thì đến chùa chiền nào đó gọi vị cao tăng đang ngồi viết báo cáo tình hình an ninh chính trị, tôn giáo, nhờ vị ấy làm cái lễ giải oan hồn là xong.

Con người bất cứ là ai, làm gì phạm tội đều sợ bị trả giá. Trả giá về mặt luật pháp và nỗi lo sợ mơ hồ là trả giá bằng hậu vận, âm đức. Nhưng những người chiến sĩ công an ngày này chẳng lo về mặt luật pháp, cũng chẳng lo về mặt tâm linh. Vậy thì cái gì sẽ khiến họ phải đắn đo khi dùng bạo lực để đối xử với người dân.?

Chẳng có gì khiến họ phải lo sợ kể cả thể xác lẫn tâm hồn. Bởi thế chúng ta thấy nụ cuời tươi tắn trong phiên tòa, lúc mà những đứa con thơ của nạn nhân vấn khăn tang cầm di ảnh bố cũng ở đó. Nụ cười của người chiến sĩ công an phạm tội giết người mà đuợc tòa án và báo chí chuyển ngữ là ” làm chết người ” đó sẽ là nụ cười của câu trả lời.

  • Chẳng có gì khiến chúng tôi phải bận tâm. Chúng tôi là thanh kiếm và lá chắn của chế độ, đó là quy luật như trái đất vẫn quay mặc dù thế nào đi nữa.

Dù thế nào thì tôi cũng phải công nhận, tôi gặp nhiều công an tốt. Thậm chí là kể cả khi tôi bị bắt tù vì tội hình sự. Cả quãng thời gian dài đằng đẵng qua bao nhiêu nhà tù, phòng giam tôi chưa hề phải viết xấu về người công an nào phụ trách tôi. Tôi vẫn nhớ những buổi chiều qua song sắt trại giam tôi và người công an trẻ trạc tuổi tôi nói chuyện. Chúng tôi xưng tên với nhau, câu chuyện về tình yêu, cuộc đời và những trải nghiệm, văn học, âm nhạc. Tôi nhớ có lần người công an trẻ đó giật mình nói.

  • Hiếu này, tôi không phải khó khăn gì hay quan cách gì đâu. Nhưng nếu có ai đi qua ông đừng xưng hô thế nầy nhé. Có tôi và ông thì không sao.

Tôi cũng nhớ đến Hùng M, quản giáo trực trại V. Khi anh ta sai, tôi nói thẳng là muốn đi trại giam khác, anh ta đỏ mặt nói.

  • Đm tao là công an, nhưng tao có đối xử mày theo kiểu công an với tù đâu. Tao sai thì mày nói tao, chứ mày làm thế đéo có tình nghĩa gì. Tao cũng cần có bạn, mà kiếm bạn ở trong đám tù có dễ đâu.

Nhưng đó là một thời đã xa, đã 20 năm rồi. Nó chỉ là ký ức đẹp về những người chiến sĩ công an sống có tình. Sống còn biết sợ đến hai chữ ” thất đức”.

Tôi cũng nhớ anh Kiên, anh Dũng. Hai người cảnh sát đã coi tôi như em, hay cho tôi thuốc lá, tiền khi nhà tôi không đến thăm tôi. Khi còn ở nhà, mỗi khi làm ăn được tôi đều đến thăm người quản giáo cũ là ông Hỷ. Nếu ông đọc được những dòng này, xin ông hiểu tôi không nói về những con người như ông và những người cảnh sát tôi nhắc tên.

Tôi chỉ muốn nói rằng, những người cảnh sát của 20 năm trước đã dần ít đi. Thay thế vào đó là những người cảnh sát có tư cách ngược lại. Kể từ khi nhiều công an được điều động chuyển ngành những chức vụ quan trọng trong bộ máy chính quyền. Cũng kể từ khi đó mà bỗng nhiên nhiều vụ công an làm chết người càng nhiều hơn, các mức án cũng nhẹ hơn, các công an đi chùa cũng nhiều hơn. Và đời sống của họ cũng …..khá giả hơn.

 

 

Cộng Sản Sụp Đổ Tan Rã Vì Lòng Dân Không Theo

ĐẾ QUỐC CỘNG SẢN VĨ ĐẠI – KHẮC NGHIỆT

SUY KIỆT SỤP ĐỔ

TAN RÃ VÌ LÒNG DÂN KHÔNG THEO

 

Cách đây hai ngàn năm, đế quốc La Mã hùng mạnh nhất thế giới đã thống trị nhiều dân tộc yếu kém hơn trong suốt 400 năm sau Tây Lịch, sau đó còn kéo dài ở phía Ðông (đế quốc Ðông La Mã) cho đếnnăm 1453. Thời kỳ nhân loại chưa có ý thức nhân quyền rõ rệt, và ý thức tự do, dân chủ chưa phát triển nên đế quốc La Mã đã dùng bạo lực ngự trị xa xỉ, kiêu căng trên cuộc sống lầm than, khổ sở của nhiều dân tộc khác.
Vào đầu thế kỷ 20 khi Lenin cho thành lập đế quốc Cộng Sản Liên Sô, so với nhân lực, cơ cấu tổ chức, và vũ khí thời La Mã thì đế quốc Cộng Sản Liên Sô hùng mạnh hơn với các trang bị quân sự hiện đại có tầm sát thương – tàn phá –  hủy diệt hàng loạt. Ngoài vũ khí hiện đại, tân đế quốc này còn được hỗ trợ bởi một “học thuyết” khá hoàn bị về mặt lý thuyết, dù vòng vèo-mâu thuẫn-tối nghĩa về nội dung, ngay từ lúc khởi đầu dựng đế quốc. Read more of this post

THÊM CÁC TƯ LIỆU VỀ VIỆC VU OAN BÀ CÁT HANH LONG NGUYỄN THỊ NĂM

 Theo Tễu

 

 Chân dung Bà Cát Hanh Long Nguyễn Thị Năm
 

Dưới đây là một bài viết đăng trên báo Nhân Dân ngày 21 tháng 7 năm 1953 của tác giả C.B., mở màn cho chiến dịch cải cách ruộng đất. Đối tượng mà bài báo “tấn công” là bà Cát-hanh-long Nguyễn Thị Năm, một người có công với cách mạng. 

 

Địa chủ ác ghê
Thánh hiền dạy rằng: “Vi phú bất nhân”. Ai cũng biết rằng địa chủ thì ác: như bóc lột nhân dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khoá – thế thôi. Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không nháy mắt. Đây là một thí dụ:

Mụ địa chủ Cát-hanh-Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã:

– Giết chết 14 nông dân.

– Tra tấn đánh đập hằng chục nông dân, nay còn tàn tật.
– Làm chết 32 gia đình gồm có 200 người – năm 1944, chúng đưa 37 gia đình về đồn điền phá rừng khai ruộng cho chúng. Chúng bắt làm nhiều và cho ăn đói. Ít tháng sau, vì cực khổ quá, 32 gia đình đã chết hết, không còn một người.
– Chúng đã hãm chết hơn 30 nông dân – Năm 1945, chúng đưa 65 nông dân bị nạn đói ở Thái Bình về làm đồn điền. Cũng vì chúng cho ăn đói bắt làm nhiều. Ít hôm sau, hơn 30 người đã chết ở xóm Chùa Hang.
– Năm 1944-45, chúng đưa 20 trẻ em mồ côi về nuôi. Chúng bắt các em ở dưới hầm, cho ăn đói mặc rách, bắt làm quá sức lại đánh đập không ngớt. Chỉ mấy tháng, 15 em đã bỏ mạng.

Các nhà hoạt động “đưa nhân quyền VN ra thế giới”.

 

Cùi Các
Trong một chiến lược đưa vấn đề nhân quyền Việt Nam ra thế giới, một trang tin bằng Anh ngữ mang tên Vietnamrightnow ra đời nhằm cung cấp và phổ biến thông tin về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam vào đúng dịp Liên Hiệp Quốc kỷ niệm cho ngày của “Quyền được biết” 24/3.
Sự ra đời của trang tin nhân quyền này đúng vào ngày giỗ lần thứ 88 của cụ Phan Châu Trinh – người đã đề xướng tư tưởng nhân quyền và dân quyền đầu tiên tại Việt Nam.
Theo như tuyên bố, Vietnam right now được thành lập bởi một mạng lưới xuyên quốc gia của các nhà hoạt động và các tổ chức xã hội dân sự độc lập trong và ngoài nước.
Nói về lý do ra đời, Tiến sĩ Nguyễn Công Huân cho biết “chúng tôi đã thực hiện rất nhiều bài thuyết trình và báo cáo về nhân quyền trên các diễn đàn quốc tế, nhưng điều đó là không đủ để cho thế giới hiểu đầy đủ về những gì đang diễn ra ở đất nước chúng tôi”.

Read more of this post

(Video) Hàng Ngàn người dân Phản Đối chính quyền cưỡng chế, cướp đất tại xã Quỳnh Văn, Quỳnh Lưu, Nghệ An.

 

(VIdeo) KHỎE RE NHƯ CON BÒ KÉO XE – NGUYỄN BẮC TRUYỂN – NHẠC SỸ NGUYỄN HỮU CẦU

 

TẠI SAO CỘNG SẢN GIẾT PHẠM QUỲNH?

Việt Minh cộng sản đã giết Phạm Quỳnh (1892-1945) hai lần: Lần thứ nhất hạ sát, che giấu và phi tang thân xác ông tại Huế năm 1945. Lần thứ hai, bóp méo lịch sử, viết sai lạc về Phạm Quỳnh, nhằm hủy diệt luôn sự nghiệp và thanh danh của ông. Một câu hỏi cần được đặt ra là lúc đó Phạm Quỳnh đã rút lui khỏi chính trường, tại sao cộng sản lại giết Phạm Quỳnh, trong khi cộng sản không giết Trần Trọng Kim và toàn bộ nhân viên nội các Trần Trọng Kim, là những người đang còn hoạt động? Câu hỏi nầy cần tách ra làm hai phần để dễ tìm hiểu:

Thứ nhất
Từ khi đến Trung Hoa hoạt động năm 1924, Hồ Chí Minh, điệp viên của Đê Tam Quốc tế Cộng sản, lúc đó có tên Nguyễn Ái Quốc, Lý Thụy, đã chủ trương “giết tiềm lực”. Giết tiềm lực là tiêu diệt tất cả những cá nhân có khả năng tiềm tàng mà không chịu theo chủ nghĩa cộng sản hay đảng Cộng Sản, có thể sẽ có hại cho đảng Cộng sản trong tương lai. Những người nầy về sau có thể sẽ hoạt động chính trị và có thể sẽ gây trở ngại, gây nguy hiểm cho sự phát triển của cộng sản. Nạn nhân danh tiếng đầu tiên của chủ trương giết tiềm lực của Hồ Chí Minh là Phan Bội Châu (1867-1940). Phan Bội Châu bị Lý Thụy bán tin cho Pháp, để Pháp bắt Phan Bội Châu năm 1925 tại nhà ga Thượng Hải, nhằm đoạt lấy tổ chức của Phan Bội Châu. (Tưởng Vĩnh Kính, Nhất cá Việt Nam dân tộc chủ nghĩa đích ngụy trang giả, bản dịch của Nguyễn Thượng Huyền, Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, California: Nxb. Văn Nghệ, 1999, tt. 84-85.)

Read more of this post